Sông Mekong trên đường suy thoái
Tác giã: Phạm Phan Long
Sông
Mekong là dòng sông quốc tế dài 4800 km phát nguồn từ vùng Thanh
Hải, Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái, Cam Bốt và
Việt Nam ra Biển Đông. Lưu vực sông Mekong rộng 795,000 km2 và lưu
lượng ra biển trung bình 15,000 m3/giây, 775 tỉ m3/năm -thứ tám trên
thế giới. Nước Mekong chảy về hạ nguồn từ 2,000 m3/giây vào mùa hạn
và tăng lên 50,000 m3/giây vào mùa lũ hay tăng lên 25 lần; chảy về
Tonle Sap tăng 50 lần.
Sông Mekong là nguồn sống cưu mang 70 triệu cư dân trong đó
có đến 70 sắc tộc. Mekong mang nhiều tên khác nhau tùy dân cư từng
vùng sông: Trên thượng nguồn, người Tây Tạng gọi Mekong là Dzu Chu
(River of Rocks), Trung Quốc gọi là Lancang Jiang (sông Cuồng Nộ),
người Thái gọi là Mae Nam Khong (sông Mẹ) và người Việt gọi là sông
Cửu Long.
Langcang-Mekong chảy siết xuống từ 5,000 m độ cao, len vào
những khe núi đá, đổ xuống biên giới Trung Quốc, mất 4,500 m độ cao;
khi vào biên giới Lào Trung chỉ còn cao độ 500 m, chảy xuống những
nước hạ nguồn, đến đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) rồi ra biển.
Mekong – Tài Nguyên Thiên Nhiên của Lưu Vực
Sông Mekong được tạo hóa ban cho 1,500 -1,700 giống cá, và
nhiều sinh vật hoa màu. Về sự phong phú đa dạng sinh thái, sông
Mekong chỉ đứng sau sông Amazon mà thôi. Nhưng Mekong khác hơn tất
cả các dòng sông lớn khác ở chỗ Mekong còn ít bị khai thác nhất còn
sót lại cho nhân loại.
Tạo hóa ban cho Mekong một hồ chứa thiên nhiên hòan hảo đó
là Biển Hồ Tonle Sap. Đây là kho tàng vô giá và một phép lành
cho dân cư Cam Bốt và ĐBSCL. Biển Hồ vừa vựa cá cho dân Cam Bốt,
vừa là khiên chắn lũ và vừa là hồ nước cho cả trăm ngàn tấn cá
sinh sản cho dân Cam Bốt và Việt Nam thu họach tại hạ nguồn.
Dân tộc Thái và Lào tin vào thần thọai thần Naga đã sống
tại dòng Mekong, sau khi tĩnh tâm, thần Naga đã nhả ra hồng cầu,
to như quả trứng, bay từ mặt sông lên trời. Truyền thuyết này đã
được dân chug làm thành lễ hội truyền thống của họ. Người Cam
Bốt còn tin rằng họ chính là con cháu của Công chúa con gái thần
Naga sinh ra. Do đó, sông Mekong còn có ý nghĩa văn hóa và linh
thiêng đối với cư dân lưu vực.
Mekong là bát cơm, đĩa cá, lợi tức, kế sinh nhai và
nguồn sống còn của 70 triệu người đa số là nông ngư dân. Nguồn
sống này vẫn có từ ngàn năm nhưng nay đang trên đà suy thoái, bị
tàn phá nặng nề phần lớn bởi con người đã và sang khai thác bất
trách thêm vào thiên tai và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Phù sa:
Sông Mekong mang một trọng tải phù sa xuống hạ nguồn và ra
cửa biển. Theo nghiên cứu năm 2006 của nhà địa lý học TS Avijit
Gupta của trường Đại học Leeds, sông Lancang-Vân Nam đổ vào Mekong
80 triệu tấn phù sa hay 50% của tổng số 150-170 triệu tấn phù sa về
hạ nguồn [1]. Nguồn phù sa này là nguồn chất dinh dường thiên nhiên
cho ngư sản và phân bón cho hoa màu nông nghiệp hạ nguồn. Phù sa này
còn là nguồn bồi đắp thiết yếu cho duyên hải Nam Việt và dinh dường
cho sinh vật ở đó. [2]
Ngư nghiệp:
Lưu vực sông Mekong sản xuất được 1.5 triệu tấn ngư sản
hàng năm, số ngư sản này là 80% nguồn chất đạm cho 70 triệu dân
cư lưu vực. Giá trị ngư sản của Mekong ước tính là 2 – 3 tỉ $USD
hàng năm.
Mekong còn là nơi trú ẩn sinh tồn của nhiều lòai cá hiếm
quý gần tuyệt chủng như lòai cá hô Pangasianodon gigas (giant cat
fish mà người Thái gọi là Pla Buk), cá heo Irrawaddy và hàng trăm
giống di ngư -migratory fish- bơi xuống hạ nguồn để trưởng thành và
rồi lớn lên trở ngược lại thượng nguồn để đẻ trứng theo một chu
trình thiên nhiên của chúng.
Nông nghiệp:
Tổng số gạo sản xuất từ ba nước Việt Nam, Thái Lan và Cam
Bốt tương đương với 10% tổng số lượng gạo xuất cảng trên của thế
giới. Việt Nam đã xuất cảng 4.6 triệu tấn trong bảy tháng đầu và dự
trù xuất cảng đến 6 triệu tấn gạo (2.7 tỉ $USD) trong năm 2009. Số
lúa gạo này là nhờ phần lớn vào ĐBSCL, phù sa màu mỡ và nước sông
cung cấp cung cấp từ thượng nguồn.
Lợi Ích và Hiểm Họa Thủy Điện Trên Mekong
Điện và nước là hai cung ứng tối cần cho sự phát triển
kinh tế và xã hội. Nhu cầu điện năng của lưu vực Mekong cho 25
triệu gia đình có thể sẽ cần đến tổng công suất lên đến 20,000
đến 25,000 MW. Cam Bốt là quốc gia phải trả tiền điện cao nhất
thế giới. Thái Lan cần nhập cảng điện từ các nước láng giềng vì
không thể thỏa mãn được nhu cầu nội địa. Việt Nam và Trung Quốc
không thể tiếp tục đà tăng trưởng như hiện nay nếu chỉ xây nhà
máy nhiệt điện [đốt nhiên liệu đang cạn kiệt dần như than đá,
dầu xăng hay ga]. Giá nhiên liệu ngày càng tăng và ô nhiễm càng
nghiệt ngã trên các đô thị dân cư đông đúc.
Thủy điện trên lưu vực Lancang-Mekong là nguồn năng lượng
không thể không khai thác vì số vốn xây dựng và phí tổn nhiên
liệu họat động và điều hành thủy điện ít hơn hẳn so nhà máy điện
đốt than đá, đốt dầu hay đốt ga. Thủy điện mang cho kỹ nghệ
nặng, các công ty xây dựng, mạng lưới cung cấp cơ khí và vật
liệu và các quỹ đầu tư được nhiều quyền lợi to lớn.
Nhóm đặc quyền và đặc lợi này có sức mạnh tài chánh và
nhiều ảnh hưởng chính trị, họ dễ kết hợp nhau, nhất là tại quốc
gia đang mở mang trong lưu vực Mekong, làm chính sách thuận lợi,
che đậy thông tin bất lợi, khống chế dư luận, hạn chế nghiên cứu
tác động môi sinh và không tích cực phổ b iến thông tin môi sinh
học cho dân cư.
Phong trào khai thác thủy điện đã bị khựng lại tại các nước
văn minh, vì không còn địa điểm tốt, công dân các nước văn minh
chống đối mãnh liệt và chịu luật lệ kiềm tỏa; nhưng thủy điện lại
đang trổi mạnh tại những nước đang phát triển và càng lan nhanh dưới
tay những chính quyền thiếu dân chủ.
Phát triển thủy điện Mekong có nhiều yếu tố tích cực:
- Điện năng của các dự án Lancang sẽ có là 14,800 MWtrên
dòng chính và Mekong là 30,000 MW, trong đó 14,800 MW là trên
dòng chính. Điện năng sản xuất sẽ nhằm cung cấp cho các thành
phố lớn kỹ nghệ như Côn Minh, Thượng Hải, Bangkok chứ không về
Cà Mau, Đồng Tháp, Biển Hồ. [3]
- Vốn đầu tư vào khỏang 40-50 tỉ USD và nguồn lợi tức
liên tục 50 năm sau có thể trên 170 tỉ USD cho Trung Quốc và 350
tỉ USD cho hạ nguồn.
- Điện khí hóa xã hội đem ánh sáng và tiện nghi văn minh
vào đời sống, kỹ nghệ tăng năng suất và phát triển kinh tế. Bớt
lệ thuộc vào nhập cảng xăng dầu từ ngoại quốc.
- Tránh ô nhiềm không khí từ việc đốt than đá hay dầu
khí từ các nhà máy nhiệt điện.
- Dùng nhân công bản xứ xây đập thay vì phải nhập cảng
máy móc nhiệt điện.
- Chi phí vốn xây cất nhà máy thủy điện vào khỏang
$1,000 USD/ KW tương đương xây nhà máy gas turbin, trong khi nhà
máy đốt dầu và than là $1,500 USD/KW hay hơn nữa.
- Chi phí điều hành chỉ bằng 50% nhiệt điện kèm theo thu
họach du lịch của hồ chứa.
- Giảm bớt cường độ lũ hạ nguồn (chưa hẳn, vì những năm
mưa kỷ lục cao hồ sẽ không có dung tích to lớn đó). Giảm bớt
cường độ khô hạn hạ nguồn (thực tế ở Mekong khi Manwan, Jinghong
và Daschaosan bắt đầu giừ nước ở thượng nguồn hạ nguồn Mekong
hứng chịu hạn hán nhiều năm liền).
Phạm Phan Long