Trở lại Trang Sinh Hoạt
(Đọc
bài dưới đây theo dạng trang web)
Có một nhà ngôn ngữ học
rất đặc biệt là ông Paul Benedikt.
Ông này, có
lần đến Sàig̣n chỉ một ngày mà t́m ra bao nhiêu là tiếng
Việt dính líu với các tiếng khác ở Đông Nam Á, và ông
này đă viết nhiều về những ǵ mà tiếng Tàu đă vay muợn
của các tiếng nói khác ở Đông Nam Á, giải tỏa cái huyền
thoại sai lầm là ai cũng muợn tiếng và chữ Tàu mà dùng,
trong khi tiếng Tàu chẳng cần mượn tiếng của ai cả.
Những khám
phá mới của ông Benedikt đă đảo nguợc vấn đề ai muợn
của ai và làm sáng tỏ thêm về sự đóng góp đáng kể
cho tiếng Tàu từ những tiếng khác của các dân tộc trong
vùng Đông Nam Á [South East Asian linguistic influence
upon the Chinese]
Từ 1967,
các ông Benedikt và Jerry Norman nghi ngờ về tên của
các con vật năm tuổi / tư sửu dần măo v.v…
là do Tàu muợn của các tiếng nói Đông Nam Á.
Những chữ
Tàu ấy rất lâu đời, đuợc viết lên các mảnh xương từ mấy
ngàn năm về truớc, khi miền nam sông Dương tử chua phải
là nơi sống của nguời Tàu [theo ông Shafer trong sách
Ancient China].
Thật ra, từ
năm 1935, nhà khảo cổ George Coedes có nhắc đến tên các
con vật trong con giáp [chuột, trâu, ḅ, thỏ,
rồng. rắn v.v…]
sao mà giống nhau quá giữa các tiếng Khmer, Lào, Thái và
Muờng, Việt, mặc dầu hồi đó, cách đây 70 năm rồi, ai
cũng tin là tiếng Việt là do tiếng Tàu mà ra [Phạm Quỳnh]
và rất nhiều ông Hán Việt khác, ngay cả gần đây, ông
Nguyễn Phương, Đại Học Huế, c̣n cho là:
…nguời
Việt là nguời Tàu qua đất Việt ở mà thành ra
nguời Việt
[sic] …trời đất !
Suốt 22 năm qua,
không những tôi đă cóp nhặt đuợc rất nhiều tài liệu
ngôn ngữ so sánh [comparative linguistic, cognates
studies] chứng tỏ một cách rơ ràng là các tiếng nói ở
Đông Nam Á đều có chia xẻ một nguồn gốc chung, mà có rất
nhiều tên hoa, trái, lá, cây và những con thú
vật đều đuợc các ngôn ngữ trong vùng đó gọi tên giống
nhau và đặc biệt là tên các con vật năm tuổi.
Sau đây là
bảng so sánh lư thú mà các bạn đọc chỉ cần nh́n vào
thấy ngay sự giống nhau giữa các tiếng nói anh em ở
Đông Nam Á, và thấy ngay sự khác biệt với tiếng Tàu.
Các bạn đọc
người Thái, Lào hay Khmer, Mường cũng có thể đọc ngay
chữ của họ và thấy ngay sự giống nhau quá chừng với
tiếng Việt của ta,
Có hàng ngàn bảng so
sánh khác trong quyển Từ điển các tiếng đồng nguyên
với tiếng Việt ở Đông Nam Á gồm cả thảy 275 ngàn
tiếng một lẫn tiếng ghép [compound words] đồng nguyên
với nhau [cognatics] làm thí dụ và bằng chứng cho nguồn
gốc Nam Á của tiếng Việt vững chắc như đinh đóng cột,
trong khi giả thuyết tiếng Việt từ tiếng Tàu mà ra đă bị
ê-kíp ngôn ngữ học của Encyclopedia Britanica bác bỏ
[xem đoạn trích dẫn sau đây].
Tiếng
Việt do đâu mà ra, ở đâu mà có và lúc ban đầu nó như
thế nào?
Hăy nghe
những nhận xét mới mẻ nhất về nguồn gốc tiếng Việt từ
Encyclopedia Britanica 1999 và Encarta Microsoft 2000:
…a
long held notion that identified the Vietnamese with one
tribe of the Yueh of Southern China has been
abandoned…
…the
theory that regards them [the Yueh] as direct ancestors
of the Vietnamese conflicts with ethnographic and
biological evidences.
…Quan
niệm lâu đời cho rằng nguời Việt là một trong những bộ
lạc Yueh hồi xưa ở miền nam nuớc Tàu bây giờ; quan
niệm ấy đă bị gạt bỏ…
…cái
giả thuyết cho rằng dân Yueh ở bên Tàu là tổ tiên trực
tiếp của dân tộc Việt mâu thuẩn với những bằng cớ
dữ kiện nhân chủng và sinh học hiện đại
All points to strong
social and cultural affinities between the Vietnamese
and people of the Tai and Indonesian families
…the
Vietnamse people represents a racial and cultural fusion…
Mọi [sự kiện]
đều cho thấy rằng
có nhiều điểm rất giống nhau về văn hóa và xă hội
giữa các giống nguời Việt, nguời Thái [gốc Tai] và nguời
Indonesian
…modern
day Vietnamese share many cultural and lingistic traits
with other non-Chinese peoples living in neighboring
areas of Southeast Asia
…the
Vietnamsese language is distinct, it can be described as
a fusion of Mon-Khmer, Tai and Chinese elements
…nguời
Việt ngày nay chia xẻ nhiều nét văn hóa và ngôn ngữ với
nhiều dân tộc không phải là Tàu, đă và đang sinh sống ở
những vùng lân cận với họ tại Đông Nam Á.
…cái
tiếng nói của họ th́ riêng cho họ, có thể xem như là một
hỗn hợp giữa ḍng tiếng Mon-Khmer, các tiếng Tai và
tiếng Tàu
It
is now generally believed that the Lac people were the
result of a mixture between Australo-Melanesian
inhabitants who had lived in the area since the
Paleolithic times and Asiatic people from China, who
later migrated into the area.
Ngày nay nguời ta
đồng ư nghi rằng các bộ tộc dân Lạc [Tàu nói là
Lo] xua là kết quả của một sự lai giống giữa các
nguời Australo Melanesian [Nam đảo/các đảo miền nam] đa
sinh sống tại chỗ, với các sắc dân Á châu [không cứ ǵ
nguời Tàu] đă tràn xuống, măi về sau này.
The
official language of Vietnam is the Vietnamse, a member
of the AstroAsiatic language family, a distinct
language although it has some similarities to other
languages of Southeast Asia and to Chinese.
Its syntax is closer
to Khmer
Tiếng Việt là
tiếng nói chính thức của nguời Việt Nam, một nhánh ngôn
ngữ của ḍng họ AstroAsiatic [Nam Á][miền Nam Á châu]
một thứ tiếng nói riêng biệt mặc dầu nó có nhiều sự
giống nhau với các tiếng nói khác ở Đông Nam Á và cả với
tiếng Tàu nữa.
Ngữ pháp [cách nói và
đặt câu] của tiếng Việt giống với ngữ pháp của tiếng
Khmer (theo
Encarta Microsoft 2000)
Những lời nói trên là
những gáo nuớc lạnh dội lên lưng những ai c̣n nghi là
tiếng Việt chỉ là một thứ con rơi con rớt , con hoang,
con nuôi của tiếng Tàu.
Ông Huỳnh Tịnh Paulus
Của đă viết trong bài mở đầu của từ điển Đại Nam quốc âm
tự vị [1895]:
“ấy
nguời Giao chỉ điêu tàn th́ tiếng nói cùng chữ nghia
Giao chỉ cung phải lạc…nếu
chẳng tham dụng chữ Trung quốc th́ sao cho thành tiếng
nói An nma?
[sic]
Chú ư:
chẳng qua là ông ta lầm cái tiếng với cái chữ, và đặt
cái cày trước con trâu!
Ông Phạm Quỳnh đă nói
cách đây 80 năm rằng:
…quốc
văn ắt phải có nguồn gốc từ đâu mà ra, và nguồn gốc ấy
tức là Hán văn, quốc văn là cái văn từ nguồn gốc chữ nho
[sic] không thể bỏ chữ nho mà thành lập đuợc.
Ông Phạm Duy Khiêm, đă
nói, khi cọng tác với cụ Trần Trọng Kim làm quyển Việt
Nam văn phạm rằng:
cette
langue est encore au stade des langues tribales
[sic]
tiếng
Việt đang c̣n ở giai đoạn ngôn ngữ của một dân tộc
thiểu số [sic]
chú ư:
hiện nay tiếng Việt có độ 80 triệu nguời nói và đứng
thứ 14 về số đông nguời nói trên thế giới! Hai ông ấy
lầm to !
Ông Lê Ngọc Trụ, cách
đây 40 năm, nh́n đâu cũng thấy tiếng Tàu, nên guợng ép
gán cho rất nhiều tiếng Việt, từ Việt,những cái âm
huởng đồng nguyên giả tạo [false cognatic inference]
với tiếng Tàu hay âm Hán Việt mà không hề đưa ra bằng
chứng có thật về đồng nguyên với các ngôn ngữ khác ở
Đông Nam Á:
chỉ sinh ra [sic] giấy
tranh sinh ra giành
chủng
sinh ra giống
chính
sinh ra giêng[sic] [chính nguyệt là tháng giêng !]
khang
sinh ra xương
cấp
sinh ra
gấp
cuong sinh ra giềng [-mối]
tiết
sinh ra Tết
tải
[chuyên chở] sinh ra chài [ghe chài][?!]
Ta hăy xem dưới đây
nguồn gốc [cognates] thật sự của các tiếng trên để thấy
cách suy luận ngẩu hứng [wishful thinking] của
ông ấy:
GIẤY [paper/papier]
Muờng:
k-chấy
Burma:
s-giuếy
[nếu bảo là âm này là
Tàu th́ tại sao nguời Muờng và Burma phát âm giống như
Việt ?
GIÀNH [to
dispute, compete, vie for, to accaparate, take away
from][se disputer, entrer en compétition, s’emparer
de]
Muờng:
chènh, chèng
Nùng:
cheng tranh
giành
Thái: pr-chành
gièng
chjing
giành nhau
Mon:
k-giành
Khmer:
pr-chèng
ḳn-nhèng
tṛn-chèng
Indonesia:
saing giành giựt
[nếu bảo là do chữ
tranh của Tàu mà ra th́ tại sao không nói cạnh
giành, giành thủ, giành chấp, chiến giành mà lại
nói là cạnh tranh, tranh thủ, tranh chấp, chiến tranh?]
GIỐNG
[species, gender, race][espèce, genre, race]
Hmong:
t-zống
Thái:
kh-ỵng
kh-giống
/
cả Việt Thái Hmong đều
có chung tiếng này
GIÊNG #
tháng giêng [first month of the lunar calendar][premier
mois lunaire]
[không phải do chữ chính
mà ra, v́ nguồn gốc của nó khác hẳn:]
Thái:
chiêng giêng
đươn chiêng
tháng giêng
đuon kiêng tháng giêng
Nùng:
chiêng giêng
hươn chiêng tháng
giêng
Lào:
đươn giêng tháng giêng
Burma:
a-yiêng [đầu
tiên, truớc hết]
Pali/Sanscrit:
yir -id-
Chàm:
bulăn dhir
tháng
giêng
[nếu bảo là do chữ
chính ? của Tàu mà ra, th́ tại sao lại không nói
giêng trị, giêng quyền, giêng sách [sic] v.v. mà lại
nói chính trị, chính quyền, chính sách ?]
XƯƠNG
[bone][os]
Một tiếng rất hay nói: [bộ-,
- xóc, găy
–,
v.v.] mà ông Lê Ngọc Trụ gán cho nó một âm huởng Hán
Việt là khang [sic], trong khi hàng chục đồng
nguyên của hàng chục ngôn ngữ anh em với tiếng Việt
duới đây, cho thấy quá rơ nguồn gốc rừ đâu:
Muờng: xang
Nùng: xang
Khmer: x-uang
Aslian[bên Malyasia] xuong
Hmong/Mèo:
x-âng
Bahmar: x-ang,
k-xang
Sedang: k-siang,
k-xiang
Katu, Bru: ng-ang
Rengao:
k-xâng
Mdrah, Didrah, Todrah:
[gần Kontum]
k-xeng
Palaung/Wa:
x-ang
Mundari, Santali
[Đông bắc Án] xang,
zang, jang
[hàng chục sắc dân này
đâu có dính dáng ǵ đến Tàu đâu, thế họ đều phát âm như
Việt vậy]
GẤP [hurried,
hasty, urgent][urgent, en hâte, hâtif]
Malay:
gapah
gấp
Thái:
khu-ấp “
khấp
“
k-kấp k-kap gấp gáp!
hu-ấp háp id
h-ngốp hngap id
Khmer:
hi-ấp id
Saora[ḍng
Munda] s-gấp id
Lào:
hấp/rấp id
hấp rịp gấp
và rộn rịp!
hấp pày
đi gấp
Chàm:
h-gấp gấp, vội
[cả vùng ngôn ngữ Đông
Nam Á mấy trăm triệu nguời cũng nói vậy, đâu phải chỉ là
vấn đề riêng giữa Việt và Tàu đâu mà bảo là gốc Tàu!]
GIỀNG
[ giềng mối]
English: established
customs, habits, patterns of transaction, business or
ways of life
Français: coutumes,
habitudes de vie, pratiques de transactions
Một chữ nghe âm huởng
rất là Việt và có vẻ quê mùa, vậy mà dính gốc với Thái
Lào thuần ṛng và đúng điệu!
Thái:
yiềng [kiểu cách,
cách thức, đuờng lối]
ji êng
-id-
Khmer:
riềng h́nh thức,
kiểu mẫu, mô h́nh
Lào:
yiềng sự sắp xếp,
xếp đặt,dàn xếp
[chữ giềng tự nó
có nguồn gốc rơ ràng, cần ǵ phải guợng ép bắt nó dính
líu vào chữ cương của Tàu?]
CHÀI [kẻ -,
ông -, nguời -, bạn -, tay -, thuyền -, đi - , làm nghề
-, thả -, kéo -, đan -, quăng -, cất -, dở -, vạn -,
làng -//chóp -, nắm chóp -]
-chài
là cái luới, cái rớ, cái đồ đánh cá, dụng cụ để
bắt cá
-chài
là tung ra, rải ra,quăng ra, vất ra, ném ra, lia
ra, liệng ra, làm cho bung ra, tung ra
-chài
(nghia bóng) là quyến rủ, dụ dỗ, mê hoặc, nhử cho ai
bị mắc bẫy, mắc luới, vào tṛng [chài gái, chài yểm
, đi chài kẻ khờ khạo]
Eng : fish net, fish
trap/to throw a fish net, to set a fish trap // to
trap, to entrap to lure into entrapment, to catch with a
snare, to ensnare
Fr : filet de pêche,
épervier, tramail, carrelet de pêche / jeter l’épervier
/ jeter un sort,
envouter, captiver qq par des paroles douceureuses
Pali/Sanscrit /Thái:
chal cái chài [# luới,
rớ]
Lào
: chal
cái chơm tre để chơm cá
Chàm:
chal cái chài, luới
cá, rớ cá
thrah chal
# thả luới, thả rớ để bắt cá
Indonesia:
jala
cái chài [luới, rớ, dụng cụ bắt cá]
Mata
jala mắt
luới
TẾT [ngày -,
ăn -, chúc -, lễ -, hội -, mừng -, đi -, biếu -, quà -,
sắm - // - nhất,- ta, - tây, v.v.]
Tết
là ngày hội hè đầu năm.
Eng : lunar new year
festival, celebration, holidays
Fr : nouvel an
oriental, du calendrier lunaire
Một tiếng nhức nhối
về ư nghĩa, các ông Hán Việt cho là nó đọc trẹ cái
âm của Tàu là tiết (season, time, climate change)Từ
điển Huỳnh Tịnh Của:
tiết đầu năm [sic]
Từ điển Khai trí tiến
đức: không
hề cho rằng tết là tiết
Từ điển của A, de
Rhodes: có
nhắc đến những từ ngữ : tết năm, tết ai,
ăn tết.
* Nhưng coi chừng, cả mấy
chục ngôn ngữ của Đông Nam Á không dính dáng ǵ đến
Tàu cũng nói như vậy! Coi chừng bé cái lầm. Sự
thực, cái lầm này không bé tí nào, nó lầm lớn lắm và
lầm lẫn đă hơn hai ngàn năm nay rồi, hăy xem xét trong
các ngôn ngữ sau đây:
Nùng:
Tét
Tết
niên Tét
năm Tết
Chàm:
Băng Tít ăn
Tết [băng là ăn]
Tít Tết
[lễ tháng năm của lịch Chàm]
bùlăn
Chết
tháng Tết
Khmer
Chêtr lễ
tháng Năm [lịch xưa của Khmer]
tháng
gió mùa bắt đầu thổi nguợc lại
tháng
của mùa gió Nồm ở Đông Nam Á
tháng
của mùa mưa đến trên lục địa Ấn và miền ĐNA
[Tùy theo vị trí từng
nuớc, mưa đến với gió mùa từ cuối tháng tư đến cuối
tháng năm] tên tháng 4 và tháng 5 của lịch Ấn xưa
khae
Chêt tháng Tết [tháng 4 dương
lịch] khae là tháng tháng Tết Khmer # 13 tháng tư
dương lịch
# 23 tháng ba âm lịch
Chêt
khal thời gian có lễ Tết ấy
[khal
là thời gian, lúc, khi]
Thái:
Thết
Thết
khal
/mùa Tết, những ngày Tết
[annual celebration /new year propitius ritual]
Thết
Thày
Tết Thái [Thái new year ritual celebration]
Trếts
#
Tết [trong từ điển Francais-Thái của Pallegoix]
Trêts
chền
Chinese new year
[chền là Tầu]
Chêtr
fifth lunar month # mid April
Trôts
lễ hội đầu mùa mưa của lịch Thái xưa, cuối April-May
Trôts
farăng dịch là
Tết hoa lang [western new year]
chú ư:
farăng # hoa lang # occidental, western do
đó mà có đạo Hoa lang # đạo Thiên chúa
Zhuang:
SIT Tết của nguời Zhuang
bên quảng Tây, một bộ tộc thuộc ḍng Tai, họ đông đến 25
triệu nguời, nói tiếng Thái xưa
đuon Sit tháng tết [yearly
monsoon festival ritual celebration]
Mon:
k-Têh first days of Mon new year
Nepal:
Teej
[Teetj Brata] lễ đầu năm của nguời Nepal [theo báo
Nguời Việt, Oct 9,1992, số 305]
Mustang:
Tij, Tiji
ngày lễ mùa mưa đến [xứ Mustang ở sát với Nepal]
Đông Bắc Ấn Độ:
Teej # monsoon festival
[theo
NationalGeographic] : swinging in celebration,
village
girls sing the ancient melodies of Teej, the festival
marking the return of the monsoon and the promise of
prosperity
Sau cùng, cái cú dứt
điểm [knoch out punch]
chấm dứt cái quan niệm
sai lầm 2100 năm
của chúng ta là cú
[coup] này:
Chính Khổng tử cũng
không hề nói Tết là do tiết mà ra! Ông
nói rằng:
…ta
không biết Tết là ǵ! Nghe đâu đó là một ngày lễ
hội lớn của bọn nguời Man [sic] họ nhảy múa nhu điên,
uống ruợu và ăn choi vào những ngày đó mà không phải là
những ngày đầu năm của chúng ta. Nghe đâu họ gọi là
Tế-sạ [sic]
[theo kinh Lễ kư]
Nếu Khổng tử nghĩ rằng
tiết sinh ra tết, sao lại c̣n đi phiên âm
khá vụng về là Tế-sạ làm ǵ? Chữ tiết của
Tàu, dù là đời Khổng tử đi nữa, làm sao mà trẹ cái âm
thành Tế-sạ đuợc?
Bởi v́ ổng không
nghĩ như thế!
Rồi không lẽ ổng
không nghĩ như thế mà ta lại cứ khư khư bo bo mà
suy nghĩ như thế làm ǵ nhỉ, hơn nữa, có cả
chục ngôn ngữ khác chẳng ăn thua ǵ đến tiếng Tàu cũng
lại nói trại trại trẹ trẹ # Tết …y như ở trên,
làm ta phải suy nghĩ lại về cái hiểu lầm tết
# tiết.
Bấy nhiêu cũng đủ đánh
gục cái quan niệm hời hợt giả tạo là tiếng Tàu tiếng
Việt một ḷ mà ra [sic]
Ông ấy lại c̣n viết:”trong
sự truy nguyên, c̣n xét những tiếng gần với tiếng Muờng
chàm Thái Khmer, Mă Lai; công việc này ngoài phạm vi
chính tả của chúng tôi”
[sic]
Vậy hóa ra ổng làm như
thế là những tiếng đó không có chính tả, muốn viết
sao th́ viết à?
Tại sao ông ấy lại cứ
phải né tránh, mà chỉ muốn truy nguyên riêng cho Hán
Việt?
Đă gọi là truy nguyên mà
cứ nhè một nguời / một đối tuợng mà truy thôi, hèn ǵ mà
đối tuợng đó lănh đủ!
Có bao nhiêu tiếng Việt
ổng đều qui cho là tại tiếng Tàu mà sinh ra cả!
Tội nghiệp cho tiếng Tàu,
ai ăn đâu mà ḿnh phải chịu trận.
Vậy th́ chân tay
ở đâu cà , không lẽ do thủ túc mà sinh ra?
Mặt, mũi, mắt ở đâu sinh
ra, không lẽ lại bảo là ngoài phạm vi chính tả của ông?
Tệ hơn nữa, là gần đây
ông Nguyễn Phương, giáo sư Đại Học Huế truớc 1963, c̣n
viết:
‘…nguời
Việt chẳng qua là nguời Tàu [sic] mà tràn xuống sinh
sống ở vùng quanh châu thổ sông Hồng hiện nay, rồi khi
đủ điều kiện thuận tiện [sic] th́ trở thành nguới Việt…[xin
miễn phê b́nh]
‘…tiếng
Việt chẳng qua là tiếng Tàu xen lẫn một vài tiếng Muờng
tiếng Mọi mà thôi [sic]…v́
chẳng qua gặp dịp có thêm một vài tiếng để mà tiện nói
chuyện hay buôn bán với họ’
[sic] [xin miễn phê b́nh luôn v́ nhận xét ấy quá ḱ!]
Cũng may là
có một số ít học giả [Nguyễn Háo Vinh, Nguyễn Văn Ngọc,
Dương Quảng Hàm] nh́n xa thấy rộng hiểu biết rơ thêm
về nguồn gốc thật sự của tiếng Việt, như ông Duong Quảng
Hàm đă nói, khoảng năm 1941”
…’Lạ
thay cho nuớc ḿnh, có tiếng nói mà không hề ai học
tiếng, không đâu dạy cách dùng tiếng, không sách nào nói
đến nghia tiếng, cùng mẹo đặt câu…’
chua
từng ai nghiên cứu học hành tiếng An nam cả…
[cái tinh đời của ông
Dương Quảng Hàm là hiểu rằng chữ viết không phải là
tiếng nói, viết ra mà không hiểu th́ cũng như không!]
Các nhà ngôn ngữ
học hiện đại đều công nhận cái ưu tiên của lời nói hơn
chữ viết rất nhiều [primacy of the spoken words over
their written form]
Tôi xin đưa
ra một thí dụ trong hàng ngàn thí dụ:
Nguời Việt
ta viết đuợc chữ đau đớn [dù bằng cách viết abc
hay bằng chữ Nôm] nhưng ta đâu có hiểu đớn là ǵ?!
Có cả #
5000 tiếng Việt như đẹp đẽ, mới mẻ, sạch
sẽ, vui vẻ, da dẻ,v.v. nếu chỉ viết
vào đây thôi, ba ngày cũng chưa hết, vậy mà nguời Việt
ta đâu có hiểu là ǵ?!
Khuyết
điểm mà ông Duong Quảng Hàm nhận thấy đó nay đă đuợc bổ
túc:
Bộ Từ điển đồng
nguyên tiếng Việt và các tiếng Đông Nam Á
/ Vietnamese and
Southeast Asian Cognatic dictionary
/ Dictionnaire
cognatique Vietnamien et Sud-est Asiatique đang in
và xuất bản duới hai h́nh thức: một bộ 10 CD và sách
[4000 trang] sẽ cống hiến cho bạn đọc khắp nơi trên thế
giới [Pháp, Anh Mỹ cũng đọc đuợc, mà ngay cả nguời
Khmer, Chàm, Thái, Lào, Miến Điện Mă Lai, Indonesia cũng
đọc đuợc dễ dàng từ điển này v́ có ngay chữ viết của họ
trong đó, chứ không phải chỉ phiên âm phiên chữ một cách
giả tạo.
Nhưng trên
hết là, với 275 ngàn thí dụ đồng nguyên [cognatic
correspondances] và hàng trăm bản đồ ghi chỗ ở
và nơi xuất phát của các dân tộc bộ lạc khắp vùng Đông
Nam Á với chừng 27 ngàn tiếng Việt của cả ba miền Bắc
Trung Nam , để cho ai cũng thấy, nguời Việt cũng như
nguời ngoại quốc, hiểu và ư thức đuợc rất rơ ràng là
tiếng Việt không phải là do tiếng Tàu mà ra, trái lại,
tiếng Việt là anh em họ hàng với bao nhiêu là tiếng nói
khác ở Đông Nam Á, mặc dù qua hon hai ngàn năm, cái chữ
viết khác nhau của các thứ chữ Đông Nam Á đă làm cho ta
lầm tuởng là cái âm, cái tiếng, cái nghia của các ngôn
ngữ đó cũng khác nhau luôn!
Thật ra,
chúng nó đều giống nhau đến mức ngạc nhiên sững sờ [xem
vài thí dụ đồng nguyên ở phụ lục cuối bài]:
Từ
xưa đến nay có bao nhiêu là giả thuyết về ngồn gốc tiếng
Việt: nào là
từ gốc tiếng Tàu [sic], nào là gốc Mon [ông Logan] cách
đây đa 150 năm, nào là gốc Thái [ông Maspero], nào là
gốc Mon-Khmer [đuợc nhiều nhà ngôn ngữ học nh́n nhận]
rồi th́ ông Haudricourt với những nhận xét về thanh âm
tiếng Việt, và nhiều ông khác nữa, cho là gốc
AustroAsiatic, một ḍng họ ngôn ngữ lớn hơn cả ḍng Mon
Khmer nữa.
Không hề thấycó một giả
thuyết nào đuợc dẫn chứng với những nghiên cứu chi
tiết và hoàn toàn đầy đủ cả, họ chỉ đua ra vài chục thí
dụ cho hàng chục ngôn ngữ, trung b́nh vài chục thí dụ
cho một ngôn ngữ là cùng, trong khi tiếng Việt ta có đến
10 ngàn tiếng một, có gốc gác đàng hoàng và trên trăm
ngàn tiếng ghép lại [ghép đôi, ghép ba, ghép bốn nữa là
khác] th́ một vài chục cái thí dụ họ đưa ra không đủ sức
thuyết phục, không đủ điều kiện cần và đủ để minh xác
cho bất cứ một nhận xét dữ kiện nào về tiếng Việt, dù là
nhận xét về các nhấn giọng, các âm tiết các vần điệu,
các tên bộ phận hay giác quan trong thân thể, cây cối,
tên hoa lá, tên các trái, các con vật, v.v. nói chi đến
nguồn gốc.
Cái mà bất
cứ nhà ngôn ngữ học nào chuyên về tiếng Việt cần có để
học hỏi t́m kiếm rồi làm giả thuyết là một từ điển
nghiên cứu đồng nguyên của tiếng Việt, không đuợc
sót một từ nào, để tránh đưa ra vài thí dụ nghèo nàn v́
thiếu tài liệu.
Cái cần
thiết ‘không
có không đuợc
nay đă có.
Từ điển
đồng nguyên tiếng Việt-Đông Nam Á đưa ra 27 ngàn từ
gốc gác của tiếng Việt, sẽ giúp cho bất cứ một học
giả nào nghiên cứu tiếng Việt về mọi khía cạnh chứ
không riêng chi về nguồn gốc của nó, có đuợc ngay truớc
mắt và trên tay, hàng trăm ngàn bằng chứng sờ sờ, hiển
nhiên và thực tế về muôn điều muôn vẻ những chi tiết của
tiếng Việt, so sánh với muôn điều muôn vẻ những chi tiết
của từng ngôn ngữ khác nhau ở vùng Đông Nam Á.
Nó sẽ cho
họ thấy nổi bật lên hàng chục ngàn điểm giống nhau cũng
như hàng ngàn điểm khác nhau, như một bản nhất lăm
[synoptic table] khổng lồ về nguồn gốc của từng tiếng
Việt một, truớc khi tổng hợp chúng nó lại thành ra nhận
xét chung về nguồn gốc của cả một ngôn ngữ hiện nay, dù
ngôn ngữ đó là Việt hay Khmer, Thái, Lào, Chàm, Miến
điện, Mă lai, Indonesia, v.v..
Từ điển này
không những t́m đồng nguyên và nguồn gốc cho tiếng Việt
mà thôi, nó c̣n là bộ sách tương đương cho hàng chục
quyển từ điển riêng rẻ: Việt-Khmer, Việt-Chàm, Việt
Thái, Việt-Lào, Việt-Ṃn [Ṃn là một phần của ḍng họ
ngôn ngữ Ṃn-Khmer], Việt-Mă lai, Việt-Indonesia, Việt-Myanmar
[truớc đây là Miến điện], Việt-Khasi [một tiếng nói bên
Đông bắc Ấn độ, giống tiếng Việt đến mức không tuởng
tuợng đuợc, mặc dù nguời Khasi và tiếng Khasi rất xa lạ
với chúng ta, phần đông chỉ quen với ngôn ngữ
Tàu-Việt], ngoài ra c̣n có từ điển Việt-Muờng,
Việt-Nùng, Việt-Mon Khmer. v.v…
NGUYỄN HY VỌNG M.D.