TRẠI ĐỊNH CƯ B̀NH GIẢ
(Trích đoạn bài thuyết
trình của Ông Phạm Minh Tuấn trong Đại Hội Bình Giả tại
Atlanta, Georgia)
B́nh Giả là trại của địa phận Vinh, toàn quốc là 315 trại. Số dân
ban đầu là 6.445 (Vinh Hà: 2.100, Vinh Châu 2.300, Vinh Trung:
2.045). Đầu tháng 6/55, Phủ Tổng Uỷ Di Cư (PTUDC) đă tổ chức nhiều
đoàn đi t́m đất cho đồng bào di cư đến trễ. Khi người ḿnh vào tới
các trại tạm cư ở miền Nam th́ những trọng điểm cần thiết chung
quanh Sàig̣n, Gia Định và vùng phụ cận đă được đưa những đồng bào
miền Bắc di cư đến định cư. Người ḿnh đến sau phải đến những vùng
trọng điểm xa hơn, hơn nữa việc chọn, t́m đất đai sinh sống cho một
số dân trên 6 ngàn người chuyên về nghề nông cả là một vấn đề khó
khăn và phức tạp v́ c̣n phải tuỳ thuộc vào công thổ quốc gia mới đáp
ứng yêu cầu được.
Nhưng để bù lại, những trại định cư như B́nh Giả được chính phủ
quan tâm và ưu tiên hơn, được tổ chức chu đáo hơn với nguồn viện trợ
nhiều hơn và lâu dài hơn so với các trại đă có từ trước..
Phái đoàn đến B́nh Giả để xem xét đất đai gồm có:
 | Đại diện Phủ Tổng Uỷ Di Cư: Ông Đoàn Văn
Sáo (GĐ Nha Định Cư) và ông Nguyễn Văn Thái (kỹ sư điền địa). |
 | Đại diện ban di cư địa phận Vinh gồm có 4
linh mục: Nguyễn Viết Khai, Đoàn Duy Đông, Nguyễn Văn Kiều và
Phùng Viết Mỹ. |
 | Đại diện dân chúng gồm có 7 ông: Phan
Thanh Hương, Đinh Thế Lưu, Bùi Quang Báu, Nguyễn Xuân Hiền, Trần
Quốc Hiếu, Nguyễn Trọng Thanh và Hoàng Công Phu. |
 | Đại diện các nước viện trợ gồm có 3 người
Mỹ và 2 người Pháp. |
 | Đại diện chính quyền tỉnh Bà Rịa hướng dẫn
phái đoàn. |
Sau khi xem xét xong, phái đoàn trở về lại ṭa hành chánh tỉnh
nghỉ ngơi và dùng cơm trưa do t́nh khoản đăi. Đoàn được biết B́nh
Giả là nơi mà PTUDC đă có dự án sẽ lập 3 làng dưới sự bảo trợ của
chính phủ Pháp (làng 1), Mỹ (làng 2 và 3).
Theo kế hoạch dự trù th́ B́nh Giả lấy hương lộ làm phân ranh các
làng. Hương lộ này là của chủ đồn điền người Pháp (Đồn điền Bésia và
Gallia) thực hiện để chuyên chở mủ cao su va cà phê từ La Sơn, Xuân
Sơn về B́nh Ba. Từ ngă 3 Ngăi Giao cách 2km, qua một con suối cạn về
hướng Đông là bắt đầu khu định cư B́nh Giả. Chạy thẳng về hướng Đông
khoảng 2km phía Nam hương lộ là làng 1, phía Bắc hương lộ là làng 2.
Một đường ngang cắt hương lộ theo hướng Nam Bắc chạy dài về hướng
Đông khoảng 1km là làng 3.
Mỗi làng có một khu trung tâm rộng khoảng 4 mẫu tây để làm nhà
thờ, trường học, trạm y tế, chợ, sân chơi...; và được phân phối 1
máy phát điện khoảng 40Kw, 1 xe ô tô chở hành khách loại Renault, 1
xe cam nhông. Phía sau mỗi làng dành một lô đất khoảng 4 mẫu tây
phía sau khu nhà ở để làm nghĩa trang.
Nhà dân sẽ được cất theo hàng dọc hướng Đông-Tây, và mỗi gia đ́nh
sẽ được:
 | 2 sào vườn (25m x 80m) trên có nhà ở, |
 | 1 căn nhà sườn gỗ 2 gian, mái tranh, vách
lá (đúng ra là lợp 26 tấm tole nhưng v́ tole đến trẽ, nên lợp
tranh và dân được lănh thêm vào tiền canh tác), |
 | 5 sào đất đă ủi để canh tác, |
 | 1 mẫu mới đốn cây to. |
Cách thiết kế th́ cứ 3 vườn lại có một con đường ngang nhỏ rộng
2m (Nam-Bắc) và cứ 9 vườn lại có một con đường rộng 5m (Nam-Bắc),
cách 2 dăy vườn ở lại có một con đường rộng 5m (Đông-Tây) chạy song
song với hương lộ chính. Mỗi khu xóm được máy khoan đào từ 2 đến 3
giếng công cộng để có nước cho dân chúng dùng.
Đó là kế hoạch tổng quát cho người dân biết trước lúc đến định cư
chưa kể đến các trợ cấp khác.
Đáp lời yêu cầu của chính phủ, nước Pháp sẽ bảo trợ và xây dựng
làng 1, Hoa Kỳ sẽ bảo trợ và xây dựng làng 2 và làng 3. V́ là giáo
dân cùng chung một địa phận Mẹ, cùng chung một hoàn cảnh sống như
nhau, để mọi người luôn yêu thương và đùm bọc lẫn nhau, tránh t́nh
trạng so đo, suy b́ có thể xảy ra, cha Nguyễn Viết Khai đă đề nghị
nhập chung cả hai nguồn viện trợ để xây dựng và phân chia đồng đều
cho cả 3 làng.
Lợi Điểm Của
Trại B̀NH GIẢ:
 | Đất đai: Vừa có đất trồng lúa, vừa có đất
trồng hoa màu và cây công nghiệp. Đặc biệt là có thể đem một số
dân trên 6 ngàn người tới đây định cư. |
 | Khí hậu: Với mưa thuận gió ḥa. |
 | Giao thông thuận lợi, gần tỉnh lỵ và thành
phố. |
Phái đoàn đi xem đất về đă họp dân tại Xuân Trường để báo cáo
t́nh h́nh cho dân chúng biết. Bà con rất vui mừng và đă chọn vùng
B́nh Giả (Bà Rịa) là nơi để lập trại định cư.
Toàn dân đă bầu một ban đại diện chung gồm 16 người: Ông Đinh Thế
Lưu (chủ tịch), ông Đinh Huỳnh Lục, ông Nguyễn Văn Cừ, ông Cao Xuân
Trường, ông Ngô Xuân Trạch, ông Nguyễn Duy Hiền, ông Trần Hữu Liệu,
ông Ngô Xuân Tŕnh, ông Nguyễn Đ́nh Thi, ông Bùi Quang Báu, ông
Nguyễn Đ́nh Thông, ông Nguyễn Nhiệm, ông Trần Quốc Hiếu, ông Nguyễn
Tiến Hoàng, ông Hoàng Công Phu, ông Trần Văn Hạnh.
Trong lúc đang ngồi đọc tài liệu tham khảo để soạn bài thuyết
tŕnh này, tôi đă nhận được điện thoại của Ông Cao Xuân Sung từ Bắc
Cali (San Jose) báo tin Ông Cao Xuân Tường vừa qua đời tại Xuân
Phong B́nh Giả Việt Nam sáng ngày 21 tháng 5, 2005. Như vậy ban đại
diện chung gồm 16 người năm đó, nay theo sự thăm ḍ của chúng tôi
th́ chỉ c̣n có Ông Nguyễn Văn Cừ ( Phi Lộc) c̣n sống ở Việt Nam và
thầy Nguyễn Đ́nh Thông (Gia Ḥa) hiện đang sống cùng gia đ́nh tại
Canada .
Theo dự trù th́ PTUDC sẽ cho máy san ủi đất trước, tuy nhiên v́
chờ khá lâu (4 tháng) nên bà con ở Xuân Trường và B́nh Đông muốn
được đi định cư sớm bởi lẽ cảnh sống chung quá nóng nực và phức tạp,
nhất là trẻ em bị đau yếu nhiều.
Đầu tháng 10/1955 văn pḥng di cư địa phận Vinh họp khẩn cấp và
đệ đạt nguyện vọng lên PTUDC Xin được khai phá rừng bằng chính sức
người với nguyện vọng:
- Tăng cường mức ăn cho dân trong 4 tháng
lao động nặng.
- PTUDC cung cấp dụng cụ để khai phá rừng.
- Xin PTUDC tuyển 30 cán bộ trong dân di cư
(có trả lương) để hướng dẫn và đôn đốc 200 người
xung phong đi trước.
- Xin một số thùng phuy để đựng nuớc uống.
- Xin cấp một số vài bạt (tentes).
Linh mục đại diên địa phận Vinh tŕnh bày ư nguyện của dân và đă
được ông tổng uỷ trưởng PTUDC chấp thuận và ông đă chỉ thị cho các
pḥng, ban liên hệ thi hành. Thông báo cho t́nh Bà Rịa để phối hợp
công tác.
Ngày Thứ Sáu 28/10/1955 (13-09 Ất Mùi) toán tiền phong 200 người
đă đặt chân đến mảnh đất B́nh Giả. Đây là ngày lịch sử.
Nơi dừng chân đầu tiên là dưới bóng mát của cây cựa gà cổ thụ (là
trung tâm xứ Vinh Hà ngày nay).
 | Ông giám đốc nha định cư đem kỹ sư và cán
bộ đi cắm mốc của 3 làng. |
 | Dân phá rừng được rải đều 2 bên hương lộ
dài khoảng 1km. |
 | Dựng lều trại làm nơi cư trú tạm cho dân
lao động. |
 | PTUDC đă cấp một xe Renault và 1 GMC và
tài xế để tuỳ nghi sử dụng. |
 | Các đồn binh Pháp ở Bà Rịa giúp đỡ và cung
cấp nước hàng ngày. |
 | Linh mục tuyên uư ở đồn Bàu Long và Ḥa
Long cứ vài ba ngày đến dâng thánh lễ. |
 | Đoàn xe PTUDC về lại Sàig̣n, c̣n cha
Nguyễn Viết Khai và CB văn pḥng địa phận vẫn ở lại để chỉ đạo
và đôn đốc công tác. |
Sau đó xe ủi được phái đến để ban đất phân lô giúp h́nh thành các
khu, ranh giới cho 3 làng và mở rộng các con đường ngang dọc. Công
việc khai phá được tiến hành một cách mau chóng, các lều trại được
dựng lên tại khu trung tâm của 3 làng, chuẩn bị đón đồng bào từ B́nh
Đông và Xuân Trường.
Khoảng 1 tháng sau, đồng bào trại B́nh Đông 1 (cha Đông), B́nh
Đông 2 và B́nh Đông 3 (cha Kiều), Xuân Trường (cha Cần) được xe
PTUDC chở lên trại định cư B́nh Giả. Với 40 xe cam nhông chở ngày
đêm phân phối cho 3 làng. Mỗi làng đều tổ chức cho các gia trưởng
bốc thăm nơi tạm trú lúc mới đến.
Để cho cuộc sống mới của người giáo dân được hài ḥa, phù hợp với
sinh hoạt, phong tục và tập quán, nghề nghiệp trước đây, cha đại
diện và quư cha đă hội ư, phân tích và sắp xếp như sau:
 | Giáo dân gốc Hà Tĩnh hầu hết sống về nghề
nông, cần cù và hiền ḥa, tổ chức thành một làng dưới sự lănh
đạo của cha Nguyễn Văn kiều. |
 | Giáo dân gốc Diễn Châu, Nghệ An, hầu hết
sống nghề buôn bán, tháo vát, năng động, tổ chức thành một làng
dưới sự lănh đạo tinh thần của cha Đoàn Duy Đông. |
 | Giáo dân gốc Nghệ An nhưng sống gần Xă
Đoài và vùng phụ cận, đa số sống nghề nông cần cù, dũng cảm, tổ
chức thành một làng, dưới sự lănh đạo của cha Trần Thanh Cần. |
*Mặc dầu có sự sắp xếp của quư cha, tuy nhiên mỗi gia đ́nh, mỗi
xứ, họ vẫn được tự do lựa chọn theo ư riêng, miễn sao trong cuộc
sống được hài ḥa và thông cảm với nhau.
Sau đó 3 cha đại diên cho 3 làng bốc thăm, kết quả:
 | Cha Nguyễn Văn Kiều bốc đúng thăm số I. |
 | Cha Đoàn Duy Đông bốc đúng thăm số II. |
 | Cha Trần Thanh Cần bốc đúng thăm số III. |
Và để đáp ứng với t́nh h́nh thực tế:
 | Ban đại diện chung giải tán. |
 | Mỗi làng (xứ đạo) bầu ban quản trị riêng
để lo điều hành tổng quát về công tác chung của làng, quản lư
vật liệu, nhân công và trợ cấp, phân bổ xe ủi theo nhu cầu của
mỗi khu xóm. |
 | Mỗi khóm (giáo họ) cũng bầu ra một ban
quản trị của khóm để thi hành công tác chung của làng, đôn đốc
công tác của khu xóm. Các ban quản trị của làng, xóm làm việc (phục
vụ) dưới sự lănh đạo của các cha giám đốc trại kiêm quản xứ cả
đạo lẫn đời. |
 | Ban quản trị làng tổ chức cho các khóm bốc
thăm vị trí định cư và đă có kết quả như ngày hôm nay. |
* * *
Công tác xây dựng cơ bản lẽ ra là do nhà thầu đảm trách, nhưng
cha đại diện của địa phận đă tŕnh xin với PTUDC cung cấp sườn nhà
c̣n lại như tranh lợp nhà, lá thưng vách và công xây dựng xin dành
cho dân di cư đảm trách, hầu giúp mọi người có công ăn việc làm. Nhờ
vậy khi vào nhà mới ở, mỗi gia đ́nh c̣n nhận thêm 3 ngàn đồng tiền
công xây dựng.
Dân chúng được chia thành nhiều nhóm để đảm trách từng công việc
như: cắt tranh, đánh tranh, dựng nhà, lợp nhà, thưng vách, đắp nền,
v.v... dưới sự lănh đạo của quư cha, của ban quản trị các khóm. Mọi
người hăng say, tích cực bắt tay vào công cuộc xây dựng trại một
cách đồng bộ và nhịp nhàng.
 | Nhờ có sự lănh đạo, có kế hoạch và có tổ
chức cộng với tinh thần hăng say cao độ của mọi người, mọi giới
mong muốn sớm tạo dựng lại cuộc sống mới, tin tưởng ở một tương
lai đầy hứa hẹn, nên chỉ một thời gian kỷ lục (khoảng 4 tháng),
cuối tháng 2/56 là chính thức bắt thăm nhà ở. |
 | Ngày 10/04/56 ĐGM Phạm Ngọc Chi (Uỷ ban hỗ
trợ di cư) đă gửi thư cho các cha giám đốc các trại, chuyển giao
các hoạt động hành chánh lại cho dân. |
 | Sau khi các ban quản trị làng, xóm chấm
dứt nhiệm vụ, UBHC Xă đă được bầu lên qua các nhiệm kỳ như sau:
 | (1956-58): Ông Nguyễn Duy Hiền |
 | (1959-61): Ông Đinh Thế Hiển |
 | (1962-64): Ông Vơ Đ́nh Hoạt |
 | (1964-66): Ông Hoàng Đ́nh Long |
 | (1966-68): Ông Nguyễn Đồng |
 | (1968-72): Ông Hoàng Đ́nh Long |
 | (1973-30/4/75): Ông Bùi Viết Khoa |
|
Tóm lại, nhờ sự giúp đỡ tận t́nh của chính phủ (PTUDC) và của
quốc tế nhất là Hoa Kỳ (UBHTDC đi vận động để xin yểm trợ), đồng bào
di cư B́nh Giả đă mau chóng có nơi ăn chốn ở, sớm ổn định cuộc sống,
làm ăn ngày càng phát đạt, góp phần tạo thêm sự phong phú cho nền
kinh tế địa phương. Tuy lúc đầu hội nhập đă phải vượt qua ít nhiều
sự kỳ thị và thành kiến có cả từ 2 phía, nhưng nói chung, sự chấp
nhận, dung dưỡng và che chở của miền Nam dành cho chúng ta đáng xem
là quá tốt đẹp và đáng nói lên bằng 2 tiếng biết ơn.
Về Kinh Tế: Từ
đầu năm 1957, con đường “tự túc mưu sinh” đă được chính thức phát
động. Người dân B́nh Giả với bản tính siêng năng, chịu khó, đă tự
ḿnh từng bước tạo dựng cuộc sống mới một cách hăng say với tràn đầy
hy vọng.
Nông sản chính là lúa gạo, bắp, đậu phộng, đâu xanh... Nhờ đất
đai màu mỡ lại gặp mưa thuần gió ḥa nên kết quả vụ mùa bội thu
ngoài cả sự ước mong của người nông dân. Số nông sản dư dùng đă giúp
người dân có điều kiện nuôi thêm gia súc, gia cầm. Những cánh đồng
cỏ tốt tươi rất thuận lợi cho việc chăn nuôi trâu ḅ, giúp cho người
dân nhiều trong công việc cày cấy. Các thương gia người B́nh Giả đă
mua các nông phẩm của dân làng đem lên tỉnh, thành phố Sàig̣n, Chợ
Lớn bán và mua các nhu yếu phẩm, mắm muối, cá thịt về bán lại cho
dân. Dần dà dân địa phương cũng t́m đến vùng đất đông đúc dân cư, là
môi trường tốt cho việc mua bán, đổi trao... Nhiều gia đ́nh đă sớm
trở nên giàu có nhờ biết cách trỉa bắp, trỉa đậu xanh trước trận mưa
phá hàng năm, biết và chịu khó trồng bù tưới và nhất là biết trồng
cây công nghiệp có giá trị như tiêu, cà phê, cây điều... Dân làng
c̣n trồng nhiều loại cây ăn trái như mít, xoài, măng cầu, đu đủ,
chuối... vừa có trái cây ăn, vừa có thêm lợi tức cho gia đ́nh. Chỉ
vài năm sau đó, dân làng lần lượt xây nhà gạch lợp tôn thay cho nhà
tranh vách lá. Nhiều toán thợ xây, thợ mộc, thợ hồ, thợ cưa đă được
h́nh thành. Người dân có thêm công ăn việc làm. Bộ mặt làng xă đă
thay h́nh đổi dạng một cách mau chóng và đẹp mắt.
Về Xă Hội: B́nh
Giả đă được tổ chức và sống theo mô h́nh giông giống như chế độ làng
xă trước kia. Tinh thần tự giúp là căn bản cho cuộc sống. Dân làng
đă dựa vào phong tục tập quán từ ngàn xưa của cha ông, tự tổ chức
cứu tế, công quả, pḥng vệ, sản xuất, tự túc cánh sinh trong ṿng
bảo bọc của luỹ tre xanh bằng t́nh lối xóm qua lại, đỡ đần nhau, một
thứ t́nh cảm của người dân quê chân chất, thật thà, thắm thiết.
Những người ra làm việc ngoài xă hội hay tham gia vào các hội
đoàn tôn giáo đề mang tính tự nguyện phục vụ dân làng. Đạo, đời lúc
nào cũng phối hợp và gắn bó với nhau dưới sự lănh đạo tinh thần của
quư cha.
Về Văn Hóa:
B́nh Giả có những công tŕnh vừa biểu thị niềm tin sâu xa mang tính
cách tôn giáo, vừa là những di tích văn hóa, có giá trị và ư nghĩa
cần bảo tồn, trùng tu và duy tŕ.
1. Tượng Đài Đức Mẹ Fatima trên
đồi Gia Ḥa:
Trong một dịp cha Phùng Viết Mỹ từ Nha Trang ghé về thăm giáo họ Gia
Ḥa (khi c̣n ở quê nhà, giáo xứ Gia Ḥa thuộc hạt Cầu Rầm mà ngài lạ
hạt trưởng), sau khi thăm hỏi giáo dân và những người quen biết
trước đây, ngài đă đi xem phong cảnh nơi người Gia Ḥa định cư, thấy
phong cảnh hữu t́nh, nên thơ, đẹp mắt và đặc biệt có ḥn lèn phía
sau, nếu khai phá và xây trên đó một bức tượng để kính Mẹ th́ hay
lắm. Qua lời gợi ư của ngài, bà con Gia Ḥa đă họp bàn và quyết định
khởi công xây dựng tượng Đức Mẹ Fatima trên ngọn đồi này.
Người thiết kế vẽ mẫu là ông Ngô Kim Toàn, người điều công là cố
Nguyễn Khán (cố Nông). Tượng đài Đức Mẹ đă được khánh thành ngày
15-05-1957 và cũng đă được tu sửa nhiều lần.
Đến năm 2004, nhờ một số con cháu người Gia Ḥa ở hải ngoại gửi
về chút ít, cộng với sự đóng góp của bà con trong giáo họ và của các
gia đ́nh ngoài giáo họ có ḷng sùng kính Đức Mẹ dâng cúng, ban điều
hành giáo họ đă nhờ các kiến trúc sư, kỹ sư, các nhà trang hoàng
chuyên nghiệp vẽ họa đồ và phối trí xây dựng lại. Công tŕnh đă được
khánh thành vào tháng 12 năm 2004, vào dịp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên
Tội là quan thầy của giáo họ.
2. Tượng Đài Đức Mẹ tại trung
tâm giáo xứ Vinh Châu: Đêm mùng 2 Tết Mậu Thân (Chúa
Nhật ngày 18-02-1968), khoảng 1 giờ sáng, B́nh Giả đă phải hứng chịu
nhiều đợt pháo kích bằng loại đạn pháo 75 ly, 2 quả đạn rớt nổ ngoài
ṿng đai Vinh Hà, 1 quả nổ ở một căn nhà không có người ở tại hàng 4
khóm Yên Đại, 1 quả đạn xuyên qua tường nhà ông Quư (Thổ Hoàng) vào
năm ngay dưới tủ chén, đạn nóng hổi nhưng không nổ. Sáng hôm sau,
lực lượng an ninh đi thu gom được 51 quả đạn 75 ly về tập trung tại
sân xă B́nh Giả cho mọi người xem. Điều làm mọi người ngạc nhiên là
tất cả số đạn này đều bị găy đầu hỏa pháo. Cũng trong đêm đó tại chi
khu Đức Thạnh đạn pháo đă nổ rền trời, tại đồn Suối Nghệ đạn nổ đă
phá hư hại nặng một số công sự pḥng thủ...
Để tạ ơn Đức Mẹ đă che chở và ban ơn b́nh an đặc biệt này, anh em
nghĩa quân đă thực hiện công tŕnh này. Đức Mẹ đứng trên một tháp
cao. Tượng Đài Đức Mẹ đă được ĐGM Giuse Lê Văn Ấn làm phép và khánh
thành ngày 17-12-1968, và đă được ban hành giáo xứ Vinh Châu nhiệm
kỳ IX (1985-1987: Ông Đặng Bảng (Đông Yên) là chánh trương và ông
Phạm Thuyên (Xuân Phong) là phó) trùng tu lại. Việc trùng tu đă được
khởi công ngày 01-05-1986 và hoàn thành ngày 31-05-86.
3. Tượng Đài Chúa Kitô Vua trên
đồi Gia Ḥa: Đă được anh em thanh niên giáo họ Gia
Ḥa thực hiện. Đây là một công tŕnh đầy sáng tạo và nhiều công phu.
Tượng Chúa Kitô Vua đứng trên một cánh của ngọn đồi cao, đang nh́n
đoàn con truớc mặt với đôi tay giang rộng, để che chở và ban phát
mọi ơn lành hồn xác cho con cái của Ngài... Công tŕnh đă được khánh
thành đúng ngày lễ KITÔ VUA, 21-11-1990.
Về Giáo Dục:
Ngay từ lúc xây dựng những cơ sở vật chất đầu tiên, công tác ưu tiên
của cả 3 làng là các lớp học cho con em. Trường học được làm bằng
sườn gỗ, mái tole, vách ván. Vật liệu và bàn ghế do PTUDC cấp. Tiên
lương cho giáo viên và mọi chi phí khác do Đức Cha Phạm Ngọc Chi và
cơ quan Caritas tài trợ.
Luật pháp của đệ I cộng ḥa quy định: các trẻ em từ 6 đến 14 tuổi
phải qua 3 năm đầu của bậc tiểu học.
Nhờ sự quan tâm đặc biệt và nhắc nhở thường xuyên của quư cha,
các bậc phụ huynh đă ư thức được việc lo cho con cái được cắp sách
đến trường, ư thức được giáo dục là phương tiện tốt để con cái có cơ
hội tiến thân. Như thế người ta khuyến học, ham học nên kính trọng
giáo dục và người có học.
Từ năm 1957 B́nh Giả đă có trường trung tiểu học Tấn Đức chung
cho cả 3 làng được xây dựng tại trung tâm xứ Vinh Châu. (Tiền do quỹ
riêng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho trong dịp ông về thăm B́nh
Giả vào cuối năm 1956). Cha phó xứ Vinh Châu là cha Giacôbê Lê Đức
Trung thiết kế, vẽ mẫu gồm 5 lớp học, 1 pḥng dành làm văn pḥng và
1 sân chơ bóng rổ. Thủ quỹ là ông Đinh Thế Lưu, đốc công là ông Đinh
Huỳnh Lục và hiệu trưởng là cha Đoàn Duy Đông.
 | Năm học 1957, trường Tấn Đức có lớp nhứt
đầu tiên đi thi lấy bằng tiểu haọc ở t́nh lỵ. |
 | Các thầy, cô (giáo viên) đă được tuyển
chọn tại địa phương. |
 | Cuối thập niên 1960 đă có nhiều học sinh
của các lớp đầu trở về dạy cho các lớp đàn em. |
Điểm nổi bật nhất nói lên sự quan tâm lo lắng của quư cha đối với
vấn đề giáo dục của con em trong xă nhà: Năm 1970, lúc cha Phêrô
Trần Đ́nh Trọng là chánh xứ Vinh Trung, ngài đă mở trường trung học
tư thục Hồng Lĩnh đệ nhị cấp. Trong lúc đó ở ngay tỉnh lỵ Phước Tuy
ngoại trừ trường bán công Huỳnh Tịnh Của và trường công lập Châu Văn
Tiếp, các trường tư thục lâu năm như Minh Phụng và Sĩ Tải cũng chỉ
có đến đệ nhất cấp.
Ngày nay con cháu b́nh Giả đă có mặt trong mọi ngành nghể từ nha
sĩ, y sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo sư, v.v... và trong số đó có nhiều
người trở về phục vụ tại nơi chôn nhau cắt rốn của họ.
Về Tôn Giáo:
 | Từ 28-10-55 đến 04-10-65: Thuộc điạ phận
Sàig̣n do ĐM Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền cai quản. |
 | Từ 04-10-65 đến nay: Thuộc giáo phận Xuân
Lộc mà ĐGM tiên khởi là Đức Cha Giuse Lê Văn Ấn. |
 | Về ơn gọi: B́nh Giả có 1 giám mục, Đức Cha
Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, 30 linh mục, 11 chủng sinh, 14 nam tu
sĩ, 51 nữ tu sĩ. |
 | Hiện tại cả 3 giáo xứ đều có các d́ thuộc
các cộng đoàn nữ tu Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, cộng đoàn thuộc
ḍng Đa-Minh (Tam Hiệp), cộng đoàn thuộc ḍng Chúa Quan Pḥng,
cộng đoàn thuộc ḍng Mến Thánh Giá (Huế). Quư d́ giúp các giáo
xứ trong việc phụng vụ, dạy giáo lư và văn hóa cho con em. Ngoài
ra quư d́ c̣n trực tiếp hướng dẫn cho các hội đoàn rất hiệu quả,
luôn sát cánh với bà con từng ngày qua cuộc sống vui buồn, sướng
khổ.
Ngoài việc giáo dục trẻ thơ, quư d́ c̣n chăm sóc sức khỏe cho bà
con qua việc khám bịnh, cho thuốc, châm cứu chạy điện cho các
bịnh nhân. Quư d́ c̣n thường xuyên lo cho các gia đ́nh dân tộc
thiểu số Châu-Ro ở Ruộng Tre. Đă có gần cả trăm gia đ́nh tân
ṭng, tŕnh độ hiểu biết về đạo cũng như đời c̣n yếu nên quư d́
quan tâm, nâng đỡ họ một cách đặc biệt hơn với lớp học t́nh
thương và sự giúp đỡ về vật chất (nếu có), thật đúng với danh
xưng thừa sai truyền giáo. |
 | Sau 30.04.75, quư cha, quư thầy thuộc ḍng
Anh Em Hèn Mọn Việt Nam theo sự hợp đồng của Ṭa Giám Mục Xuân
Lộc và Nhà Ḍng đă về giúp giáo hạt B́nh Giả nói chung và giáo
xứ Vinh Châu nói riêng. |
Cha Đa-Minh Nguyễn Xuân Bá đă về làm
quản xứ vinh Châu từ ngày 2-11-75 cho đến ngày 30-3-93 ngài được về
nghỉ hưu tại cơ sở nhà ḍng ở Thủ Đức và qua đời tại đó ngày
17-10-95 hưởng thọ 74 tuổi. Cha Phêrô Đậu Văn Minh được ĐGM giáo
phận Xuân Lộc nhờ tiếp tục quản nhiệm giáo xứ cho đến ngày 13-6-94.
Quư cha đă dồn mọi nỗ lực và cống hiến
nhiều điều cho giáo xứ. Cụ thể là ngôi thánh đường hiện nay. cha
Nguyễn Xuân Bá là người khởi xướng và xét duyệt mô h́nh xây dựng để
dân xứ thực hiện.
Cha Đậu Văn Minh từ lúc là phụ tá rồi quản nhiệm tạm thời, lúc nào
cũng lo lắng và đă phục vụ bằng tất cả tâm huyết và trí tuệ, luôn
lắng nghe những ư kiến xây dựng tạo được tinh thần đoàn kết và bầu
khí vui vẻ trong giáo xứ, các giáo họ chấp hành công tác được giao
một cách tích cực, hăng say, nhờ vậy giáo xứ đă dễ dàng vượt qua
được “vạn sự khởi đầu nan” và tiến bước...
Nhờ có cộng đoàn Phan Sinh, sinh hoạt
của xứ họ đă thay đổi theo chiều hướng đáng mừng. Các hội đoàn của
giáo xứ đă được từng bước xây dựng, củng cố, phát triển và vững vàng
cho đến ngày nay. Đặc biệt thanh niên và Thiếu Nhi Thánh Thể là 2
giới ṇng cốt và là hy vọng của giáo xứ. Đào tạo đội ngũ giáo lư
viên và huynh trưởng các ngành của thiếu nhi với đầy đủ khả năng,
thiện chí và tinh thần hy sinh phục vụ. Có các lớp học hỏi Kinh
Thánh cho tất cả các giới trong xứ. Các lớp về nhân bản, giáo lư hôn
nhân cho giới trẻ. Hướng dẫn các tṛ vui chơi trong sinh hoạt tập
thể, các kỹ năng chuyên môn và tinh thần đồng đội cho giới thiếu nhi,
v.v.... Hết thảy là những món ăn bồi bổ tinh thần cho mọi người, mọi
giới nhằm canh tân đời sống đức tin. Đă đào tạo được nhiều anh chị
em có năng khiếu về âm nhạc thành ca trưởng của các ca đoàn phụng vụ
thánh nhạc trong thánh lễ. Nhờ vậy, các dịp lễ trọng trong năm, ca
đoàn tổng hợp đă tổ chức những đêm thánh ca giúp cho ư nghĩa của
ngày lễ được sâu lắng vào tâm hồn sống đạo của mọi tín hữu.
* * *
Nếu nh́n mộc cách chung chung th́ từ ngày đến định cư tại B́nh
Giả đến năm 1963 là thời kỳ mà người dân có cuộc sống thoải mái, vui
vẻ, đời sống kinh tế của người dân rất ổn định và đồng đều, có thể
nói là sung túc nữa. vào thời đó giá cả nhu yếu phẩm, gạo, cá, thịt,
đường sữa, vải vóc, xăng dầu, thuốc men luôn ổn định không lên xuống.
Cuối năm 2000, phía bắc của hương lộ chính bắt đầu từ xuân Phong
và phía nam của hương lộ, một phần lớn khóm Văn Yên trở xuống hết ấp
Vinh Trung đă được thành lập thêm một xă mới: Xă B́nh Trung. Về hành
chánh th́ B́nh Giả đă chia ra làm hai, c̣n trong thực tế của cuộc
sống hàng ngày, B́nh Giả vẫn là b́nh Giả đúng nghĩa như ngày đầu.
Dù cho sông cạn đá ṃn
Nghĩa t́nh B́nh Giả măi c̣n sắt son.
* * * * *
Houston, Tháng 5, 2005
Phạm Minh Tuấn
* Bài thuyết tŕnh này đă được một số anh em và bà con B́nh
Giả xa gần góp ư và ban nội dung chương tŕnh của ngày Đại Hội đă
thông qua.
Tài Liệu Tham Khảo
1. B́nh Giả Quê Hai của tác giả Đ́nh Quang.
2. Năm Mươi Năm Nh́n Lại Quê Hương Và Cuộc Di Cư Của Người Giao Ḥa
của tác giả Xuân Nghi.
3. Hiệp Định Geneva 1954 Và Những Kinh Nghiệm Không Được Những Người
Trong Cuộc Rút Tỉa của Phạm Cao Dương.
4. Một Cái Nh́nh Chính Xác Hơn Về Hội Nghị Geneva của Tú Gàn.
5. Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm của Hoàng Ngọc
Thành và Thân Thị Nhân Đức.
6. Trả Ta Sông Núi, Hồi Kư Của Phạm Văn Liễu.
|